TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI KHI VỢ HOẶC CHỒNG BỊ ĐÒI NỢ

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI KHI VỢ HOẶC CHỒNG BỊ ĐÒI NỢ

Đăng lúc: 19-01-2017

TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI KHI VỢ HOẶC CHỒNG BỊ ĐÒI NỢ

Kính gửi Luật sư,

Vợ tôi giấu tôi vay nóng tiền để đánh bài, số tiến nợ đã lên đến gần 1 tỷ đồng và hiện không trả được. Tôi hoàn toàn không biết việc vay nợ của vợ tôi, các chủ nợ cũng đã kiện vợ tôi ra tòa. Vừa qua, theo phán quyết của tòa, cơ quan thi hành án kê biên tài sản gồm tất cả đồ đạc có giá trị trong nhà, kể cả ngôi nhà do tôi đứng tên đang được cả gia đình sử dụng để ở. Nhưng căn nhà này là tài sản riêng của tôi. Vậy tôi xin hỏi việc cơ quan thi hành án kê biên toàn bộ tài sản như vậy có đúng không?

(Hà Văn Tuấn)

Luật sư trả lời,

Để xác định việc cơ quan thi hành án kê biên toàn bộ tài sản của gia đình bạn là đúng hay sai thì cần xem xét mục đích vay tiền của vợ bạn. Cụ thể như sau:

– Theo khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”.

– Khoản 2 Điều 37 quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: “Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình được coi là nghĩa vụ chung của vợ chồng”.

Như vậy, nếu vợ bạn vay tiền để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình (ví dụ như sửa chữa nhà, chữa bệnh cho con, đóng tiền học cho con…) thì bạn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng.

Ngược lại, trường hợp vợ bạn vay tiền vì mục đích cá nhân (đánh bạc, trả nợ riêng…) và bạn không hề biết việc vay tiền này thì không phải liên đới trả nợ. Tức là Cơ quan thi hành án không được kê biên tài sản riêng của bạn, mà chỉ được kê biên tài sản riêng của vợ bạn và phần tài sản trong khối tài sản chung tương xứng với công sức đóng góp của cô ấy.

Về việc xác định tài sản chung, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Còn theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng…”.

Như vậy, nếu căn nhà chỉ đứng tên bạn nhưng bạn không có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng thì căn nhà đó được xem là tài sản chung vợ chồng. Việc cơ quan thi hành án tiến hành kê biên toàn bộ tài sản là đúng theo quy định của pháp luật.

Luật sư Phan Hồng Thọ.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TUỆ ĐỨC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *